Thứ Hai, 18 tháng 3, 2013

Trẻ nào không được tiêm phòng thủy đậu

Trẻ nào không được tiêm phòng thủy đậu

Không phải trẻ nào cũng được phép tiêm phòng thủy đậu.








Bệnh thủy đậu sẽ xuất hiện 10 – 14 ngày sau khi tiếp xúc với nguồn bệnh, khởi phát bệnh thường đột ngột với triệu chứng nổi mụn nước, mụn nước nổi ở vùng đầu mặt, chi và thân, mụn nước xuất hiện rất nhanh trong vòng 12 – 24 giờ có thể nổi toàn thân. Mụn nước có kích thước từ l – 3 mm đường kính, chứa dịch trong, tuy nhiên những trường hợp nặng mụn nước sẽ to hơn hay khi nhiễm thêm vi trùng mụn nước sẽ có màu đục do chứa mủ.









Bên cạnh mụn nước trẻ nhỏ thường kèm sốt nhẹ, biếng ăn nhưng ở người lớn hay trẻ lớn thường kèm sốt cao, đau đầu, đau cơ, nôn ói. Bệnh sẽ kéo dài từ 7 – 10 ngày nếu không có biến chứng, các nốt rạ sẽ khô dần, bong vảy, thâm da nơi nổi mụn nước, không để lại sẹo, nhưng nếu bị nhiễm thêm vi trùng mụn nước có thể để lại sẹo. Ban ngứa có thể là dấu hiệu đầu tiên của cơn bệnh. Sốt nhẹ, nhức đầu và mệt mỏi là điều thông thường. Người bị nhiễm bệnh có thể bị từ chỉ vài mụn trái rạ cho đến hơn 500 mụn trên thân thể.


Tác hại của bệnh thủy đậu


Theo Bs Như Huỳnh, Bệnh viện Nhi đồng 1, hầu hết trẻ bệnh thủy đậu sẽ khỏi hoàn toàn mà không để lại di chứng. Tuy nhiên, trong một số ít trường hợp trẻ có thể bị viêm da, viêm phổi hay viêm não và có thể tử vong. Trẻ sinh ra từ người mẹ bị mắc bệnh thủy đậu có thể bị dị tật, sẹo da và một số bất thường khác.


Trẻ nào không được tiêm phòng thủy đậu


Không phải trẻ nào cũng được phép tiêm phòng thủy đậu (Ảnh: Internet)


Nếu đã từng bị mắc bệnh thủy đậu, trẻ sẽ có được miễn dịch và sau này không bị mắc bệnh một lần nữa. Tuy nhiên, trong vài trường hợp khi lớn lên bệnh có thể diễn tiến thành bệnh zona, đặc trưng bởi triệu chứng phát ban khu trú ở một số vị trí và đau dọc theo đường đi của dây thần kinh cảm giác.


Trường hợp trẻ cần phải tiêm phòng bệnh thủy đậu


- Trẻ nhỏ từ 12 tháng tuổi trở lên chưa mắc bệnh thủy đậu


- Người lớn chưa từng mắc bệnh thủy đậu, đặc biệt là các đối tượng như cô giáo, người chăm sóc trẻ, nhân viên y tế


- Phụ nữ chưa có miễn dịch với bệnh cần được tiêm ngừa trước khi mang thai khoảng 2 tháng


Trường hợp trẻ không được tiêm ngừa bệnh thủy đậu


- Dị ứng với vắc xin hoặc bất cứ thành phần nào của vắc xin. Vì vậy khi đưa bé đi tiêm ngừa, cha mẹ cần nói cho bác sĩ biết tất cả tiền sử về dị ứng của con mình.


- Phụ nữ có thai hoặc nghi ngờ có thai


- Dự định có thai trong vòng 1 tháng sau tiêm ngừa


- Trẻ bị suy giảm miễn dịch bẩm sinh, bất thường về máu, ung thư, nhiễm HIV, đang hoá trị liệu, bệnh lao.


- Đang mắc bệnh nặng


Một số phản ứng phụ sau tiêm phòng


Tất cả các vắc xin đều có thể gây ra phản ứng phụ sau khi tiêm. Tuy nhiên, những phản ứng này đều nhẹ và ít khi xảy ra. Một số phản ứng có thể gặp sau tiêm phòng thủy đậu bao gồm:


- Sưng, đỏ, đau ngay vị trí tiêm


- Sốt nhẹ


- Phát ban nhẹ xảy ra trong khoảng 5 – 26 ngày sau tiêm ngừa


Dị ứng với vắc xin phòng bệnh thủy đậu: rất hiếm xảy ra, những phản ứng này thường xuất hiện trong vòng 15 phút sau tiêm. Do đó sau khi được chủng ngừa, phụ huynh cần cho trẻ ngồi lại khoảng 30 phút để theo dõi.


Đối với trẻ có tiếp xúc với người bệnh thủy đậu bạn vẫn có thể đưa trẻ đến cơ sở y tế để được tiêm ngừa. Tuy vậy, nếu thời gian tiếp xúc của trẻ trên 5 ngày thì nhiều khả năng vắc xin sẽ không bảo vệ trẻ được khỏi bệnh. Bên cạnh đó, vắc xin phòng bệnh thủy đậu cần thời gian khoảng 2 tuần lễ để đạt được miễn dịch tốt nhất nên trong khoảng thời gian này nếu trẻ có tiếp xúc với nguồn lây, trẻ vẫn có khả năng bị mắc bệnh. Tuy nhiên, trong mọi trường hợp, nếu trẻ phát bệnh sau tiêm phòng thì các triệu chứng bệnh cũng sẽ được giảm nhẹ rất nhiều và hầu như không xảy ra biến chứng.


Theo Eva





Xem chi tiết: /song-tre/suc-khoe/2013/03/tre-nao-khong-duoc-tiem-phong-thuy-dau/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

NIỀNG RĂNG ĐẸP

Điều trị tủy răng Mảng bám răng (Dental plaque) hay còn gọi là bựa răng là một lớp màng quánh dính, không màu, bám trên bề mặt răng. Thành phần của nó bao gồm các loại vi khuẩn (sống và chết), protein của nước bọt, thức ăn thừa, đường (từ thức ăn). Hình thành khoảng 24h sau khi ăn …Đây là tác nhân chủ yếu trong các bệnh sâu răng và quanh chân răng.

Mảng bám răng sinh ra rất nhanh sau khi vệ sinh răng miệng, bất kể thành phần thức ăn của bạn trong ngày, tuy nhiên khi lượng đường pha chế trong thức ăn tăng thì tốc độ sinh ra mảng bám cũng tăng lên. Đó là vì vi khuẩn, cũng giống như con người, cần có thức ăn để tồn tại và đường chính là thức ăn tuyệt vời nhất cho chúng.

Hình tổng quát và Mảng bám răng nhìn dưới kính hiển vi điện tử
Vi khuẩn tiêu hoá đường và thải ra acid. Chính lượng acid này là nguyên nhân trực tiếp gây ra sâu răng, bởi vì nó làm tiêu huỷ cấu trúc tinh thể can-xi của men răng và ngà răng, dần dần tạo ra lỗ sâu.

Vì khuẩn còn sử dụng trực tiếp các phân tử đường (Dextran) để liên kết với nhau trong mảng bám, từ đó phát triển dần kích thước của mảng bám. Có khoảng 70% trọng lượng của mảng bám là vi khuẩn, tức là trong 1 mg mảng bám (bằng kích thước một đầu tăm) có chứa tới 1 tỉ vi khuẩn.

Mảng bám răng thường được tập trung ở cổ răng, là nơi tiếp giáp giữa răng và lợi, hoặc ở kẽ răng, là những nơi mà bàn chải không “với tới”. Nếu để mảng bám tổn tại lâu và tập trung với số lượng lớn thì chúng sẽ kích thích, gây viêm lợi. Lợi sẽ trở nên sưng, đỏ và rất dễ chảy máu. Có thể coi chảy máu lợi (hay còn gọi là chảy máu chân răng) là dấu hiệu đầu tiên thông báo rằng lợi của bạn có vấn đề.

Khi mảng bám còn mềm, các bạn có thể làm sạch khỏi bề mặt răng bằng bàn chải hoặc chỉ nha khoa. Nhưng khi nó đã tồn tại lâu trong miệng nó sẽ trở thành cao răng trở nên cứng, bám rất chắc vào bề mặt răng hoặc nằm khuất dưới mép lợi. Đến lúc này thì chỉ có nha sĩ mới có thể làm sạch được chúng bằng các dụng cụ đặc biệt.

Cao răng (Dental calculus, tatar) là gì?
Cao răng là mảng bám đã được vôi hoá bởi hợp chất muối calcium phosphate trong nước bọt.
Thông thường mảng bám cần tồn tại trong miệng khoảng 1 tuần để biến thành cao răng. Vì vậy nếu chúng ta làm vệ sinh răng miệng kĩ và thường xuyên thì cao răng sẽ không còn cơ hội hình thành.
Cao răng thường tập trung ở cổ răng, có màu trắng đục, ở những người hút thuốc lá thì cao răng nhuộm màu vàng nâu, gây mất thẩm mỹ. Bề mặt gồ ghề của cao răng chính là nơi lý tưởng để vi khuẩn phát triển. Nếu để tồn tại lâu, cao răng phát triển dần về kích thước, lan dần xuống phía dưới chân răng, đẩy lợi tụt xuống, dần dần gây bệnh quanh chân răng, rụng răng.

Cao răng c ó hai loại là Cao răng thường và cao răng huyết thanh. Cao răng thường như đã mô tả ở trên, khi cao răng thường gây nên viêm lợi tại chỗ, lợi vùng viêm đó sẽ tiết dịch viêm và chảy máu, máu đó ngấm vào cao răng thường tạo nên màu nâu đỏ lúc này mảng cao răng đó được gọi là cao răng huyết thanh

1 cao răng thường. 2 cao răng huyết thanh
Lấy cao răng bằng máy siêu âm là phương pháp hiện đại và tiện nghi nhất hiện nay vì đạt được mục tiêu lấy cao răng triệt để và cảm giác êm ái cho bệnh nhân. sóng siêu âm tần số 25kHz cùng với dòng nước vô khuẩn tác động tập trung lên cao răng làm cao răng bong ra và bị hút theo ống hút nước bọt

Đánh bóng có tác dụng gì?
Những người có hút thuốc lá và có hiện tượng răng xỉn đi là do lớp cao răng mỏng bám xung quanh thân răng bị khói thuốc ám vào. Lâu ngày biến thành màu vàng nâu, gây mất thẩm mỹ. Đánh bóng bề mặt lấy đi lớp cao răng này và hơn nữa làm nhẵn bóng bề mặt răng. Bề mặt răng nhẵn bóng làm chậm quá trình lắng đọng thức ăn và vi khuẩn vì thế làm trì hoãn quá trình hình thành cao răng.

Ý nghĩa và cách dùng chỉ tơ nha khoa
Quả thực dù bạn có chăm chỉ đánh răng ngay sau khi ăn uống thì vẫn còn khoảng 30% số chất bẩn vẫn bám ở các kẽ răng, cổ răng (nơi tiếp giáp giữa răng và lợi) nơi lông của bàn chải đáng răng không thể chạm tới. Số chất bẩn này nếu không được loại bỏ sẽ kết hợp với protein có trong nước bọt tạo thành cao răng. Nếu để mảng bám tổn tại lâu và tập trung với số lượng lớn sẽ khiến lợi bị sưng, đỏ và rất dễ chảy máu hay còn gọi là viêm lợi.

Để tránh hiện tượng này, ngoài việc đánh răng đúng kỹ thuật ngay sau bữa ăn cần sử dụng thêm chỉ tơ nha khoa nhằm hỗ trợ cho việc loại bỏ số chất bẩn thừa “ngoan cố” bám sâu trong kẽ răng. Tuy nhiên, sử dụng chỉ tơ nha cũng cần đúng kỹ thuật thì mới đạt kết quả cao nhất.

Cần lựa chọn loại chỉ tơ có đường kính phù hợp, dễ sử dụng để không gây chấn thương nướu răng. Lấy một đoạn chỉ dài thích hợp rồi cuộn hai đầu chỉ vào hai ngón giữa, căng đoạn chỉ này bằng hai ngón cái và ngón trỏ. Kéo nhẹ nhàng để sợi chỉ chui lọt vào kẽ răng, sau đó uốn sợi chỉ ôm quanh răng. Kéo chỉ lên xuống để làm sạch răng. Nên đưa sợi chỉ nhẹ nhàng dưới nướu một chút. Với mỗi kẽ răng, cần thực hiện động tác giống nhau ít nhất hai lần, một cho phía bên phải, một cho phía bên trái. Chú ý đặc biệt ở các mặt xa răng cối trong cùng, vì nơi này thường bị bỏ sót khi chải răng.

Như vậy, đánh răng cùng với sự hỗ trợ của chỉ tơ nha khoa sẽ giúp tránh được hiện tượng mảnh bám trên răng. Tuy nhiên, với những mảng bám lâu ngày đã đã bị vôi hoá bởi các hợp chất Can-xi trong nước bọt thì phải có sự cần có sự can thiệp nha sĩ, răng mới được làm sạch.
Chải răng đúng cách

(từ khóa: lay cao rang, lấy cao răng, lay cao rang co dau khong, lấy cao răng có đau không? lay cao rang co hai gi khong, lấy cao răng cso hại gì không? phòng khám lấy cao răng tốt nhất, phòng khám lay cao rang tot nhat, lay cao rang o ha noi, lấy cao răng ở hà nội, lay cao rang o dau tot nhat, lấy cao răng ở đau tốt nhất…)