Hiển thị các bài đăng có nhãn Vết xước vùng kín có thể dẫn đến chết người. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Vết xước vùng kín có thể dẫn đến chết người. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 8 tháng 5, 2013

Vết xước vùng kín có thể dẫn đến chết người

Vết xước vùng kín có thể dẫn đến chết người

Đã có nhiều cái chết đáng tiếc chỉ vì người bệnh coi thường việc điều trị sớm những vết trầy xước ở vùng kín.


Nhóm người được xác định dễ gặp tai hoạ này là bệnh nhân tiểu đường, nghiện rượu, béo phì, xơ gan, suy giảm miễn dịch…


Vết xước vùng kín có thể dẫn đến chết người


Thủ phạm gây hoại tử tầng sinh môn


Tầng sinh môn là từ dùng mô tả vùng da giữa bìu và hậu môn ở phái nam, vùng da giữa âm môn và hậu môn ở phái nữ. Hoại tử tầng sinh môn là bệnh đã được tác giả Fournier mô tả năm 1883 (Fournier’s gangrene). Lúc đầu bệnh Fournier’s gangrene mô tả nguyên nhân xuất phát từ đường tiết niệu và cơ quan sinh dục ngoài của phái nam nhưng về sau người ta phát hiện thêm các nguyên nhân khác xuất phát từ cơ quan sinh dục nữ và vùng hậu môn.


Hoại tử tầng sinh môn gây ra do vết thương hay vết trầy xước da ở vùng tầng sinh môn, sau đó các vi trùng sẽ xâm nhập qua vết thương hay vết trầy gây ra tình trạng phá huỷ da, mô dưới da, căn cơ và cơ vùng tầng sinh môn. Do nằm ở vùng được che kín qua nhiều lớp vải ít thông thoáng và ẩm ướt, nếu không chú ý vệ sinh (vì lý do nghề nghiệp hay thiếu hiểu biết) thì đây là môi trường sinh sống của nhiều vi khuẩn, khi có vết thương hay vết trầy xước dễ bị nhiễm trùng. Vi khuẩn gây tình trạng hoại tử tầng sinh môn thường là loại vi khuẩn yếm khí, vi khuẩn sinh mủ như streptocoque, staphylocoque, pseudomonas, staphylocoque aureus kháng methicillin, nấm… Đặc điểm của hoại tử tầng sinh môn là gây tình trạng hoại tử dải cân nông ở vùng tầng sinh môn, tốc độ hoại tử này rất nhanh, từ 2 – 3cm/giờ và từ đó lan nhanh đến bìu dái và dương vật. Tốc độ hoại tử này nếu không ngăn chặn sẽ ăn lan lên vùng bẹn, làm hoại tử cả vùng hạ vị.


Nguyên nhân gây tình trạng nhiễm trùng thường xuất phát từ: cơ quan sinh dục nam (do làm thủ thuật ở niệu đạo như đặt thông tiểu, nong niệu đạo, chấn thương giập niệu đạo, sau phẫu thuật tiết niệu, chích ma tuý vào tĩnh mạch trên dương vật…); cơ quan sinh dục nữ (ápxe tuyến Bartholin, nhiễm trùng sau sẩy thai, phá thai, phẫu thuật vùng âm đạo…); hậu môn (sau phẫu thuật ở vùng hậu môn, hiện nay gặp nhiều nhất ở bệnh nhân điều trị trĩ rò theo kinh nghiệm dân gian như bôi thuốc, đắp lá thuốc…)


Khởi phát từ những cơn ngứa vùng kín


Triệu chứng để phát hiện hoại tử tầng sinh môn thường bắt đầu với các triệu chứng âm thầm như ngứa và khó chịu ở cơ quan sinh dục ngoài, sau đó dẫn đến cơn đau dữ dội vùng cơ quan sinh dục ngoài, tiến triển các triệu chứng theo các thời kỳ như sau: triệu chứng báo trước (sốt và lờ đờ xảy ra trong vòng hai đến bảy ngày); đau dữ dội ở vùng cơ quan sinh dục ngoài kèm theo phù nề da vùng da tầng sinh môn; đau tăng dần ở vùng cơ quan sinh dục ngoài kèm theo những nốt mẩn đỏ da vùng da tầng sinh môn; xuất hiện các vết sạm đen da và tiếng lép bép dưới da vùng da tầng sinh môn; vết hoại tử xuất hiện ở vùng da tầng sinh môn và mủ chảy ra từ các vết thương; nếu không điều trị kịp thời sẽ dẫn đến choáng nhiễm trùng, nhiễm trùng huyết và hoại tử lan rộng ra khỏi vùng tầng sinh môn đến vùng bụng dưới.


Tình trạng hoại tử tầng sinh môn rất dễ phát triển ở nhóm bệnh nhân có nguy cơ cao như tiểu đường (hơn 60%), nghiện rượu, lớn tuổi, suy dinh dưỡng, suy giảm miễn dịch (HIV), béo phì, uống thuốc corticoid kéo dài, xơ gan, bệnh ung thư bạch cầu… Bệnh thường xảy ra ở tuổi từ 30 đến 70, nhất là người trên 70 tuổi, ở trẻ em có ít hơn nhưng nếu xảy ra thì thường gặp ở trẻ nhũ nhi dưới ba tháng tuổi. Tỷ lệ bệnh xảy ra ở phái nam gấp mười lần phái nữ.


Cần phát hiện sớm và phòng ngừa


Hoại tử tầng sinh môn là loại bệnh nặng, có tỷ lệ tử vong rất cao (4 – 75%) nếu phát hiện muộn và không điều trị kịp thời. Ngay cả khi được chữa lành thì cũng để lại di chứng nặng nề. Ở Việt Nam, do thiếu hiểu biết nên nhiều người điều trị các bệnh vùng hậu môn như trĩ, mạch lươn bằng đắp lá thuốc, bôi thuốc không có nguồn gốc rõ ràng, chích thuốc làm rụng trĩ… gây nhiễm trùng vùng tầng sinh môn, dẫn đến hoại tử, nhiễm trùng huyết, rất dễ tử vong hay để lại di chứng nặng nề không hồi phục.


Điều trị loại bệnh này thường rất khó khăn do phải dùng các kháng sinh thế hệ mới và liều cao trên bệnh nhân có sức đề kháng kém do bị bệnh mạn tính (tiểu đường, béo phì, xơ gan, nghiện rượu, suy giảm miễn dịch…) Nếu phát hiện sớm tình trạng nhiễm trùng, sẽ phẫu thuật rạch tháo mủ và dẫn lưu mủ tránh lan rộng vết hoại tử. Chính vì vậy phòng ngừa và phát hiện sớm bệnh là rất quan trọng. Không nên coi thường các vết thương hay các vết trầy xước vùng tầng sinh môn ở nhóm người có nguy cơ cao vì hoại tử tầng sinh môn nằm ở vùng kín đáo, nếu không chú ý thăm khám kỹ sẽ dễ bỏ sót thương tổn, đến khi phát hiện thì đã muộn.


Theo Sài Gòn tiếp thị





Xem chi tiết: /chuyen-yeu/gioi-tinh/2013/05/vet-xuoc-vung-kin-co-the-dan-den-chet-nguoi/

NIỀNG RĂNG ĐẸP

Điều trị tủy răng Mảng bám răng (Dental plaque) hay còn gọi là bựa răng là một lớp màng quánh dính, không màu, bám trên bề mặt răng. Thành phần của nó bao gồm các loại vi khuẩn (sống và chết), protein của nước bọt, thức ăn thừa, đường (từ thức ăn). Hình thành khoảng 24h sau khi ăn …Đây là tác nhân chủ yếu trong các bệnh sâu răng và quanh chân răng.

Mảng bám răng sinh ra rất nhanh sau khi vệ sinh răng miệng, bất kể thành phần thức ăn của bạn trong ngày, tuy nhiên khi lượng đường pha chế trong thức ăn tăng thì tốc độ sinh ra mảng bám cũng tăng lên. Đó là vì vi khuẩn, cũng giống như con người, cần có thức ăn để tồn tại và đường chính là thức ăn tuyệt vời nhất cho chúng.

Hình tổng quát và Mảng bám răng nhìn dưới kính hiển vi điện tử
Vi khuẩn tiêu hoá đường và thải ra acid. Chính lượng acid này là nguyên nhân trực tiếp gây ra sâu răng, bởi vì nó làm tiêu huỷ cấu trúc tinh thể can-xi của men răng và ngà răng, dần dần tạo ra lỗ sâu.

Vì khuẩn còn sử dụng trực tiếp các phân tử đường (Dextran) để liên kết với nhau trong mảng bám, từ đó phát triển dần kích thước của mảng bám. Có khoảng 70% trọng lượng của mảng bám là vi khuẩn, tức là trong 1 mg mảng bám (bằng kích thước một đầu tăm) có chứa tới 1 tỉ vi khuẩn.

Mảng bám răng thường được tập trung ở cổ răng, là nơi tiếp giáp giữa răng và lợi, hoặc ở kẽ răng, là những nơi mà bàn chải không “với tới”. Nếu để mảng bám tổn tại lâu và tập trung với số lượng lớn thì chúng sẽ kích thích, gây viêm lợi. Lợi sẽ trở nên sưng, đỏ và rất dễ chảy máu. Có thể coi chảy máu lợi (hay còn gọi là chảy máu chân răng) là dấu hiệu đầu tiên thông báo rằng lợi của bạn có vấn đề.

Khi mảng bám còn mềm, các bạn có thể làm sạch khỏi bề mặt răng bằng bàn chải hoặc chỉ nha khoa. Nhưng khi nó đã tồn tại lâu trong miệng nó sẽ trở thành cao răng trở nên cứng, bám rất chắc vào bề mặt răng hoặc nằm khuất dưới mép lợi. Đến lúc này thì chỉ có nha sĩ mới có thể làm sạch được chúng bằng các dụng cụ đặc biệt.

Cao răng (Dental calculus, tatar) là gì?
Cao răng là mảng bám đã được vôi hoá bởi hợp chất muối calcium phosphate trong nước bọt.
Thông thường mảng bám cần tồn tại trong miệng khoảng 1 tuần để biến thành cao răng. Vì vậy nếu chúng ta làm vệ sinh răng miệng kĩ và thường xuyên thì cao răng sẽ không còn cơ hội hình thành.
Cao răng thường tập trung ở cổ răng, có màu trắng đục, ở những người hút thuốc lá thì cao răng nhuộm màu vàng nâu, gây mất thẩm mỹ. Bề mặt gồ ghề của cao răng chính là nơi lý tưởng để vi khuẩn phát triển. Nếu để tồn tại lâu, cao răng phát triển dần về kích thước, lan dần xuống phía dưới chân răng, đẩy lợi tụt xuống, dần dần gây bệnh quanh chân răng, rụng răng.

Cao răng c ó hai loại là Cao răng thường và cao răng huyết thanh. Cao răng thường như đã mô tả ở trên, khi cao răng thường gây nên viêm lợi tại chỗ, lợi vùng viêm đó sẽ tiết dịch viêm và chảy máu, máu đó ngấm vào cao răng thường tạo nên màu nâu đỏ lúc này mảng cao răng đó được gọi là cao răng huyết thanh

1 cao răng thường. 2 cao răng huyết thanh
Lấy cao răng bằng máy siêu âm là phương pháp hiện đại và tiện nghi nhất hiện nay vì đạt được mục tiêu lấy cao răng triệt để và cảm giác êm ái cho bệnh nhân. sóng siêu âm tần số 25kHz cùng với dòng nước vô khuẩn tác động tập trung lên cao răng làm cao răng bong ra và bị hút theo ống hút nước bọt

Đánh bóng có tác dụng gì?
Những người có hút thuốc lá và có hiện tượng răng xỉn đi là do lớp cao răng mỏng bám xung quanh thân răng bị khói thuốc ám vào. Lâu ngày biến thành màu vàng nâu, gây mất thẩm mỹ. Đánh bóng bề mặt lấy đi lớp cao răng này và hơn nữa làm nhẵn bóng bề mặt răng. Bề mặt răng nhẵn bóng làm chậm quá trình lắng đọng thức ăn và vi khuẩn vì thế làm trì hoãn quá trình hình thành cao răng.

Ý nghĩa và cách dùng chỉ tơ nha khoa
Quả thực dù bạn có chăm chỉ đánh răng ngay sau khi ăn uống thì vẫn còn khoảng 30% số chất bẩn vẫn bám ở các kẽ răng, cổ răng (nơi tiếp giáp giữa răng và lợi) nơi lông của bàn chải đáng răng không thể chạm tới. Số chất bẩn này nếu không được loại bỏ sẽ kết hợp với protein có trong nước bọt tạo thành cao răng. Nếu để mảng bám tổn tại lâu và tập trung với số lượng lớn sẽ khiến lợi bị sưng, đỏ và rất dễ chảy máu hay còn gọi là viêm lợi.

Để tránh hiện tượng này, ngoài việc đánh răng đúng kỹ thuật ngay sau bữa ăn cần sử dụng thêm chỉ tơ nha khoa nhằm hỗ trợ cho việc loại bỏ số chất bẩn thừa “ngoan cố” bám sâu trong kẽ răng. Tuy nhiên, sử dụng chỉ tơ nha cũng cần đúng kỹ thuật thì mới đạt kết quả cao nhất.

Cần lựa chọn loại chỉ tơ có đường kính phù hợp, dễ sử dụng để không gây chấn thương nướu răng. Lấy một đoạn chỉ dài thích hợp rồi cuộn hai đầu chỉ vào hai ngón giữa, căng đoạn chỉ này bằng hai ngón cái và ngón trỏ. Kéo nhẹ nhàng để sợi chỉ chui lọt vào kẽ răng, sau đó uốn sợi chỉ ôm quanh răng. Kéo chỉ lên xuống để làm sạch răng. Nên đưa sợi chỉ nhẹ nhàng dưới nướu một chút. Với mỗi kẽ răng, cần thực hiện động tác giống nhau ít nhất hai lần, một cho phía bên phải, một cho phía bên trái. Chú ý đặc biệt ở các mặt xa răng cối trong cùng, vì nơi này thường bị bỏ sót khi chải răng.

Như vậy, đánh răng cùng với sự hỗ trợ của chỉ tơ nha khoa sẽ giúp tránh được hiện tượng mảnh bám trên răng. Tuy nhiên, với những mảng bám lâu ngày đã đã bị vôi hoá bởi các hợp chất Can-xi trong nước bọt thì phải có sự cần có sự can thiệp nha sĩ, răng mới được làm sạch.
Chải răng đúng cách

(từ khóa: lay cao rang, lấy cao răng, lay cao rang co dau khong, lấy cao răng có đau không? lay cao rang co hai gi khong, lấy cao răng cso hại gì không? phòng khám lấy cao răng tốt nhất, phòng khám lay cao rang tot nhat, lay cao rang o ha noi, lấy cao răng ở hà nội, lay cao rang o dau tot nhat, lấy cao răng ở đau tốt nhất…)