Hiển thị các bài đăng có nhãn tiếng vẫn “bể”?. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn tiếng vẫn “bể”?. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 10 tháng 4, 2013

Tại sao dậy thì xong, tiếng vẫn “bể”?

Tại sao dậy thì xong, tiếng vẫn “bể”?

Rối loạn giọng tuổi dậy thì là sự duy trì giọng nói trẻ em sau khi đã dậy thì đầy đủ và thanh quản đã phát triển hoàn toàn.


Nói cách khác, bệnh nhân có thanh quản trưởng thành nhưng lại không có giọng nói trưởng thành. Điều này khiến cho một số người mặc cảm và hạn chế giao tiếp trong xã hội, để khỏi tổn thương bởi những lời chọc ghẹo của người xung quanh và bị hiểu lầm giới tính khi nói chuyện qua điện thoại.


Dậy thì xong, tiếng vẫn “bể”


Khi mới sinh, kích thước của thanh quản trẻ em chỉ bằng 1/3 thanh quản người lớn. Chiều dài của dây thanh là 4 – 4,5 mm. Thanh quản ở rất cao. Trong suốt thời kỳ thiếu niên, giọng nền của thanh quản xuống thấp rất chậm, từ từ theo sự phát triển của thanh quản và sự hạ thấp của thanh quản trong vùng cổ.


Trước tuổi dậy thì, đã có sự khác nhau giữa giọng nói nam và nữ nhưng rất kín đáo, chủ yếu là khác ở cường độ và âm sắc. Ở tuổi dậy thì, có sự biến đổi đột ngột của giọng nói, dưới tác động của những yếu tố nội tiết. Ở trẻ vị thành niên nam, sự thay đổi giọng thường xuất hiện ở 12 – 14 tuổi, cùng lúc với sự phát triển nhanh của cơ thể và hệ lông mao. Nó kéo dài từ sáu tháng đến một năm. Kích thước thanh quản sẽ lớn lên và dây thanh dài thêm 1/3, nghĩa là thêm khoảng 1cm.


Tại sao dậy thì xong, tiếng vẫn “bể”?


Trước tuổi dậy thì, đã có sự khác nhau giữa giọng nói nam và nữ nhưng rất kín đáo


Về phương diện sinh lý, sự thay đổi kích thước của thanh quản kéo theo sự thay đổi về giọng nói. Trước khi dậy thì, trẻ thường sử dụng giọng đầu. Sau khi dậy thì, trẻ sẽ sử dụng cơ chế giọng ngực. Như vậy, nó không những làm giảm âm độ xuống một bát độ mà âm sắc còn trở nên sâu hơn, trầm hơn. Đôi khi, trong giai đoạn dậy thì, hai cơ chế này cùng tồn tại và trẻ thành niên sẽ nói giọng lúc cao, lúc trầm một cách tự phát, không kềm chế được. Thông thường, giai đoạn này chỉ kéo dài vài tháng.


Về mặt tâm lý, có nhiều trẻ thành niên bị mất phương hướng vì sự thay đổi quá đột ngột và quá khác biệt của giọng nói nên trong vô thức không chấp nhận giọng nói mới này. Từ đó kéo dài thời gian “bể tiếng” mà ở đây chúng tôi gọi là rối loạn giọng tuổi dậy thì.


Điều trị thế nào?


Hiện nay, khoa thanh học của nhiều nước đã áp dụng phương pháp luyện giọng để giúp bệnh nhân tìm lại giọng nói trầm của đàn ông.


Nhiều thầy thuốc giả thuyết rằng rối loạn giọng tuổi dậy thì là do sự xung đột tâm lý tiềm tàng của một người muốn giữ giọng nói cao và từ chối giọng nói trầm của nam giới do sự thay đổi quá đột ngột ở tuổi dậy thì.


Kỹ thuật để tạo ra giọng nói trầm gồm những phần sau: ho và phát ra nguyên âm; phát nguyên âm với thanh nôn đóng mạnh (glottal attack); giảm sự căng thẳng của các cơ; hạ thanh quản xuống khỏi vị trí cao bất thường; tằng hắng giọng lên xuống; dùng ngón tay ấn nhẹ vào sụn giáp khi bệnh nhân phát nguyên âm.


Đôi khi chỉ cần chứng tỏ cho bệnh nhân biết họ có thể phát ra âm trầm là đủ để họ có lại giọng nói nam nếu người ấy sẵn sàng để đổi giọng. Nếu bệnh nhân có biểu hiện không đáp ứng tốt với luyện giọng, cần tìm hiểu thêm các yếu tố khác, thói quen sinh hoạt trong đời thường và lúc đó phải giải thích và tư vấn cho họ.


Phác đồ luyện giọng có những bước cơ bản như sau: thư giãn; tập thở bụng; tằng hắng, phát âm; tập thở và phát âm; tập đọc: nhỏ lớn, thấp cao, kể chuyện; tập động tác môi miệng; tập phong cách; tập hát và phát âm theo đàn.


Qua đánh giá năm năm luyện giọng cho những bệnh nhân rối loạn giọng tuổi dậy thì tại bệnh viện Tai mũi họng TP.HCM, chúng tôi nhận thấy: tỷ lệ thành công cao: 78% (35/40 ca); bệnh nhân không tốn kém nhiều về tiền bạc, chỉ cần có thời gian để luyện giọng; ngoài việc tìm lại được giọng nói nam cố định, bệnh nhân còn thay đổi phong cách và lối sống, mạnh mẽ hơn, tự tin hơn.


Ngoại trừ những trường hợp có bệnh lý kèm theo, kết quả luyện giọng tuỳ thuộc nhiều vào nhận thức của bệnh nhân, sự nỗ lực và độ kiên trì.


Theo PGS.TS.BS Nguyễn Thị Ngọc Dung (Sài gòn & Tiếp thị)




Xem chi tiết: /song-tre/suc-khoe/2013/04/tai-sao-day-thi-xong-tieng-van-be/

NIỀNG RĂNG ĐẸP

Điều trị tủy răng Mảng bám răng (Dental plaque) hay còn gọi là bựa răng là một lớp màng quánh dính, không màu, bám trên bề mặt răng. Thành phần của nó bao gồm các loại vi khuẩn (sống và chết), protein của nước bọt, thức ăn thừa, đường (từ thức ăn). Hình thành khoảng 24h sau khi ăn …Đây là tác nhân chủ yếu trong các bệnh sâu răng và quanh chân răng.

Mảng bám răng sinh ra rất nhanh sau khi vệ sinh răng miệng, bất kể thành phần thức ăn của bạn trong ngày, tuy nhiên khi lượng đường pha chế trong thức ăn tăng thì tốc độ sinh ra mảng bám cũng tăng lên. Đó là vì vi khuẩn, cũng giống như con người, cần có thức ăn để tồn tại và đường chính là thức ăn tuyệt vời nhất cho chúng.

Hình tổng quát và Mảng bám răng nhìn dưới kính hiển vi điện tử
Vi khuẩn tiêu hoá đường và thải ra acid. Chính lượng acid này là nguyên nhân trực tiếp gây ra sâu răng, bởi vì nó làm tiêu huỷ cấu trúc tinh thể can-xi của men răng và ngà răng, dần dần tạo ra lỗ sâu.

Vì khuẩn còn sử dụng trực tiếp các phân tử đường (Dextran) để liên kết với nhau trong mảng bám, từ đó phát triển dần kích thước của mảng bám. Có khoảng 70% trọng lượng của mảng bám là vi khuẩn, tức là trong 1 mg mảng bám (bằng kích thước một đầu tăm) có chứa tới 1 tỉ vi khuẩn.

Mảng bám răng thường được tập trung ở cổ răng, là nơi tiếp giáp giữa răng và lợi, hoặc ở kẽ răng, là những nơi mà bàn chải không “với tới”. Nếu để mảng bám tổn tại lâu và tập trung với số lượng lớn thì chúng sẽ kích thích, gây viêm lợi. Lợi sẽ trở nên sưng, đỏ và rất dễ chảy máu. Có thể coi chảy máu lợi (hay còn gọi là chảy máu chân răng) là dấu hiệu đầu tiên thông báo rằng lợi của bạn có vấn đề.

Khi mảng bám còn mềm, các bạn có thể làm sạch khỏi bề mặt răng bằng bàn chải hoặc chỉ nha khoa. Nhưng khi nó đã tồn tại lâu trong miệng nó sẽ trở thành cao răng trở nên cứng, bám rất chắc vào bề mặt răng hoặc nằm khuất dưới mép lợi. Đến lúc này thì chỉ có nha sĩ mới có thể làm sạch được chúng bằng các dụng cụ đặc biệt.

Cao răng (Dental calculus, tatar) là gì?
Cao răng là mảng bám đã được vôi hoá bởi hợp chất muối calcium phosphate trong nước bọt.
Thông thường mảng bám cần tồn tại trong miệng khoảng 1 tuần để biến thành cao răng. Vì vậy nếu chúng ta làm vệ sinh răng miệng kĩ và thường xuyên thì cao răng sẽ không còn cơ hội hình thành.
Cao răng thường tập trung ở cổ răng, có màu trắng đục, ở những người hút thuốc lá thì cao răng nhuộm màu vàng nâu, gây mất thẩm mỹ. Bề mặt gồ ghề của cao răng chính là nơi lý tưởng để vi khuẩn phát triển. Nếu để tồn tại lâu, cao răng phát triển dần về kích thước, lan dần xuống phía dưới chân răng, đẩy lợi tụt xuống, dần dần gây bệnh quanh chân răng, rụng răng.

Cao răng c ó hai loại là Cao răng thường và cao răng huyết thanh. Cao răng thường như đã mô tả ở trên, khi cao răng thường gây nên viêm lợi tại chỗ, lợi vùng viêm đó sẽ tiết dịch viêm và chảy máu, máu đó ngấm vào cao răng thường tạo nên màu nâu đỏ lúc này mảng cao răng đó được gọi là cao răng huyết thanh

1 cao răng thường. 2 cao răng huyết thanh
Lấy cao răng bằng máy siêu âm là phương pháp hiện đại và tiện nghi nhất hiện nay vì đạt được mục tiêu lấy cao răng triệt để và cảm giác êm ái cho bệnh nhân. sóng siêu âm tần số 25kHz cùng với dòng nước vô khuẩn tác động tập trung lên cao răng làm cao răng bong ra và bị hút theo ống hút nước bọt

Đánh bóng có tác dụng gì?
Những người có hút thuốc lá và có hiện tượng răng xỉn đi là do lớp cao răng mỏng bám xung quanh thân răng bị khói thuốc ám vào. Lâu ngày biến thành màu vàng nâu, gây mất thẩm mỹ. Đánh bóng bề mặt lấy đi lớp cao răng này và hơn nữa làm nhẵn bóng bề mặt răng. Bề mặt răng nhẵn bóng làm chậm quá trình lắng đọng thức ăn và vi khuẩn vì thế làm trì hoãn quá trình hình thành cao răng.

Ý nghĩa và cách dùng chỉ tơ nha khoa
Quả thực dù bạn có chăm chỉ đánh răng ngay sau khi ăn uống thì vẫn còn khoảng 30% số chất bẩn vẫn bám ở các kẽ răng, cổ răng (nơi tiếp giáp giữa răng và lợi) nơi lông của bàn chải đáng răng không thể chạm tới. Số chất bẩn này nếu không được loại bỏ sẽ kết hợp với protein có trong nước bọt tạo thành cao răng. Nếu để mảng bám tổn tại lâu và tập trung với số lượng lớn sẽ khiến lợi bị sưng, đỏ và rất dễ chảy máu hay còn gọi là viêm lợi.

Để tránh hiện tượng này, ngoài việc đánh răng đúng kỹ thuật ngay sau bữa ăn cần sử dụng thêm chỉ tơ nha khoa nhằm hỗ trợ cho việc loại bỏ số chất bẩn thừa “ngoan cố” bám sâu trong kẽ răng. Tuy nhiên, sử dụng chỉ tơ nha cũng cần đúng kỹ thuật thì mới đạt kết quả cao nhất.

Cần lựa chọn loại chỉ tơ có đường kính phù hợp, dễ sử dụng để không gây chấn thương nướu răng. Lấy một đoạn chỉ dài thích hợp rồi cuộn hai đầu chỉ vào hai ngón giữa, căng đoạn chỉ này bằng hai ngón cái và ngón trỏ. Kéo nhẹ nhàng để sợi chỉ chui lọt vào kẽ răng, sau đó uốn sợi chỉ ôm quanh răng. Kéo chỉ lên xuống để làm sạch răng. Nên đưa sợi chỉ nhẹ nhàng dưới nướu một chút. Với mỗi kẽ răng, cần thực hiện động tác giống nhau ít nhất hai lần, một cho phía bên phải, một cho phía bên trái. Chú ý đặc biệt ở các mặt xa răng cối trong cùng, vì nơi này thường bị bỏ sót khi chải răng.

Như vậy, đánh răng cùng với sự hỗ trợ của chỉ tơ nha khoa sẽ giúp tránh được hiện tượng mảnh bám trên răng. Tuy nhiên, với những mảng bám lâu ngày đã đã bị vôi hoá bởi các hợp chất Can-xi trong nước bọt thì phải có sự cần có sự can thiệp nha sĩ, răng mới được làm sạch.
Chải răng đúng cách

(từ khóa: lay cao rang, lấy cao răng, lay cao rang co dau khong, lấy cao răng có đau không? lay cao rang co hai gi khong, lấy cao răng cso hại gì không? phòng khám lấy cao răng tốt nhất, phòng khám lay cao rang tot nhat, lay cao rang o ha noi, lấy cao răng ở hà nội, lay cao rang o dau tot nhat, lấy cao răng ở đau tốt nhất…)